banner
 29/03/2017 09:28:33 AM

Mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ Vi sinh không sử dụng kháng sinh và hormone tăng trưởng

Thuốc kháng sinh được dùng để điều trị bệnh do vi khuẩn gây nên. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cần dùng đúng liều lượng, thời gian quy định để tránh dư lượng thuốc kháng sinh trong thực phẩm chăn nuôi. Hiện nay kháng sinh đang bị lạm dụng tràn lan trong chăn nuôi dẫn đến những tồn dư kháng sinh trong thịt, cá, tôm gây hậu quả khôn lường đến người tiêu dùng. Bởi vậy, để cải thiện chất lượng của các sản phẩm từ động vật đồng thời loại bỏ dư lượng kháng sinh trong thực phẩm thì việc siết chặt sử dụng kháng sinh và hormone trong chăn nuôi là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc đưa ra giải pháp thay thế còn quan trọng hơn so với việc kiểm tra giám sát tình trạng sử dụng kháng sinh và hormone.

 Hormone bị biến đổi khi lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi

Kháng sinh dùng trong chăn nuôi dưới 3 hình thức: Dùng ở liều cao trong thời gian ngắn để điều trị bệnh cho động vật; dùng liều cao trong thời gian ngắn để phòng và ngăn chặn các bệnh; đưa vào trong thức ăn với liều thấp trong thời gian dài để thúc đẩy sự phát triển của gia súc và gia cầm. Người nuôi thường bổ sung kháng sinh vào thức ăn, nước uống để phòng ngừa bệnh thường gặp như đường ruột, hô hấp…

Hiện nay, kháng sinh kích thích vật nuôi tăng trưởng nhanh, giảm thấp tiêu hao thức ăn, vật nuôi có bề ngoài bắt mắt, tăng lợi nhuận, nhiều người chăn nuôi sử dụng lượng lớn thuốc kháng sinh trộn thẳng vào thức ăn. Những chất Salbutamol, Clenbuterol, Ractopamin có thể giúp vật nuôi mau lớn, chuyển hóa làm tiêu mỡ, tăng khối lượng cơ, làm màu thịt đỏ tươi hơn nhưng gây ra tác hại khó lường với sức khỏe con người. Epstadiol kháng sinh gây giảm tinh trùng, tăng hiện tượng đồng tính, gây ung thư hoặc các bệnh nghiêm trọng khác trong gan, thần kinh, hệ tiêu hóa, tim và có khả năng gây đột biến như Dexametazon, Tetracyline vẫn bị lén lút sử dụng. Về mặt nguyên tắc, các chất này nhất là các chất tạo nạc này đều bị cấm trong chăn nuôi.

Hệ vi sinh vật trong đường ruột mà chủ yếu là lợi khuẩn đường ruột của gia súc, gia cầm sẽ bị thay đổi và ảnh hưởng nghiêm trọng bởi việc lạm dụng kháng sinh. Việc loạn khuẩn đường ruột dẫn đến rối loạn tiêu hóa. Nếu sức đề kháng của vật nuôi kém, các bệnh nhiễm trùng đường ruột sẽ phát sinh. Loạn khuẩn đường ruột dẫn đến hại khuẩn sinh sôi, phát triển và tiết ra các ngoại độc tố. Các độc tố này gây ra rất nhiều bệnh chuyên biệt trong đó có bệnh tiêu chảy cấp cho vật nuôi, nhà chăn nuôi lại phải dùng kháng sinh để điều trị. Như vậy, nó đã tạo nên một cái vòng luẩn quẩn; trộn kháng sinh vào thức ăn để khống chế bệnh đường ruột nhưng cuối cùng lại phải dùng kháng sinh để điều trị căn bệnh tiêu chảy bùng phát mà nguyên nhân bắt nguồn từ kháng sinh trộn sẵn vào thức ăn.

Sử dụng kháng sinh thường xuyên trong thức ăn để phòng bệnh sẽ làm tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa. Một số kháng sinh có thể gây dị ứng với những người quá mẫn với kháng sinh, một số kháng sinh nhiễm thường xuyên trong thức ăn có thể gây ung thư. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với những người có sẵn cơ địa dị ứng với một số loại thuốc (phổ biến nhất là Penicilline chiếm đầu bảng với tỷ lệ sốc phản vệ 1/70.000). Sử dụng kháng sinh thường xuyên trong thức ăn sẽ làm giảm hiệu quả điều trị của kháng sinh do liều kháng sinh thấp, không giết hết vi khuẩn, từ đó tạo ra nhiều dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh, ảnh hưởng rất xấu đến công tác điều trị bệnh sau này. Những vi khuẩn kháng sinh có độc lực cao như Salmonella, E.coli, C.perfringens, Klebsiella, Shigella, Proteus, Campylobacter, có thể lây truyền giữa động vật với động vật, giữa động vật với người và sau cùng giữa người với người nhất là các vi khuẩn kháng thuốc. Tình trạng đa kháng thuốc đã được ghi nhận. Như vậy, trộn kháng sinh vào thức ăn chỉ mang lại cái lợi nhỏ cho nhà chăn nuôi nhưng tác hại vô cùng lớn cho toàn xã hội.

Công nghệ vi sinh – Giải pháp loại bỏ kháng sinh và hormone trong chăn nuôi

Để không dùng kháng sinh và hormone trong chăn nuôi, phương pháp chăn nuôi an toàn sinh học ứng dụng men vi sinh và sử dụng vắc xin cho vật nuôi là giải pháp hữu hiệu. Men vi sinh là những vi sinh vật sống hữu ích được đưa trực tiếp vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa, khi cung cấp với số lượng đầy đủ thì nó có hiệu quả sức khỏe tốt cho vật chủ. Men vi sinh giúp cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn trong đường ruột, ức chế hại khuẩn gây bệnh.

Mô hình sử dụng men vi sinh SIAMB cho lợn cỏ

Men vi sinh SIAMB là loại men dùng trong ủ thức ăn chăn nuôi do Viện Công nghệ sinh học và ứng dụng vi sinh miền nam (SIAMB) nghiên cứu sản xuất. Men có chứa các lợi khuẩn có hệ enzyme thủy phân thức ăn chăn nuôi mạnh như amylase, cellulase, protease, lipase, phytase. Ngoài ra, trong men vi sinh SIAMB còn chứa các lợi khuẩn thuộc dòng vi khuẩn lactic (LAB-Lactobacillus acid bacteria) và nấm men Saccharomyces cerevisiae có tác dụng ức chế hại khuẩn bằng cách cạnh tranh chỗ bám, tạo bacteriocine là kháng sinh tự nhiên ức chế hại khuẩn, tạo yếu tố kích thích tế bào miễn dịch đặc biệt là tế bào giết tự nhiên (NK cell – Natural Killer Cell).

Men vi sinh được sử dụng rất đơn giản theo quy trình sau; 1 lít men trộn với 150 lít nước và phun đều vào 500kg cám các loại. Sau đó trộn đều thức ăn và ủ tối thiểu 12h trước khi cho ăn.  Việc cho nước vào nhằm mục đích tạo độ ẩm để men vi sinh hoạt động, ủ 12h giúp cho thức ăn được phân cắt thành dạng dễ tiêu để lợn hấp thu nhanh hơn và triệt để hơn.

Tỷ lệ bệnh giảm khi dùng men vi sinh SIAMB so với lô đối chứng dùng kháng sinh

Kết quả khảo nghiệm chỉ ra rằng, lô thí nghiệm và lô đối chứng có sự khác biệt lớn về tỷ lệ bệnh đặc biệt là bệnh tiêu chảy.

Chỉ tiêu theo dõi (%) Lô thí nghiệm Lô đối chứng
Tỷ lệ bệnh chung 5,4%(2/38) 17,5% (7/40)
Tỷ lệ bệnh trên đường hô hấp 50 (2,7%) 28,6 (5%)
Tỷ lệ bệnh trên đường tiêu hóa 0 (0%)  57,1 (10%)
Tỷ lệ bệnh khác 50 (2,7%) 14,3 (2,5%)

Theo bảng số liệu trên thì lô đối chứng có tỷ bệnh cao hơn gấp 3,3 (17,5/5,4) lần so với lô thí nghiệm. Đặc biệt tỷ lệ tiêu chảy trên lô thí nghiệm không xuất hiện (0%) so với lô đối chứng (10%). Trong sản phẩm men vi sinh SIAMB có LactobacillusSaccharomyces cerevisiae, Bacillus spp, đây là các vi sinh vật có tính đối kháng mạnh giúp loại bỏ những vi khuẩn yếm khí có hại cho đường ruột, thiết lập sự cân bằng ổn định giữa hệ VSV có lợi và VSV có hại. Như vậy, sản phẩm men vi sinh SIAMB còn có giá trị trong việc phòng bệnh tiêu chảy trên lợn con. Trong giai đoạn lợn con đang phát triển, chúng cần nhiều thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng phải dễ tiêu hóa và hấp thụ. Ngoài ra, các acid hữu cơ trong men vi sinh SIAMB giúp nhung mao ruột của lợn con phát triển. Qua giai đoạn này dù thức ăn có tốt hơn thì nhung mao ruột vẫn không phát triển thêm được. Đây là yếu tố quyết định trong sự thành công trong nuôi lợn thịt. Hệ thống nhung mao phát triển sẽ làm tăng khả năng phòng bệnh trên đường tiêu hóa. Hệ thống nhung mao tốt giúp tiêu hóa hấp thu thức ăn hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian nuôi lợn thịt, FCR thấp, tăng hiệu quả trong chăn nuôi. Kết quả về xác định FRC được trình bày tiếp theo đây.

Bảng Trọng lượng lợn hơi và thức ăn tiêu tốn của lợn thí nghiệm

  Ngày thử nghiệm
STT 0 10 20 30 40 50 60 70
1 11 15 18 28 38 44 53 60
2 16 19 29 39 45 54 60
3 16 20 29 39 47 54 67
4 17 20 30 42 49 56 67
5 18 20 29 42 50 58 68
6 19 21 30 42 51 58 69
7 19 21 31 43 53 60 71
8 17 21 31 43 54 62 71
Tổng cân nặng (kg) 88 137 160 237 328 393 455 533
Tổng lượng thức ăn (kg)   63 100 225 400 525 725 925

Kết quả xử lý số liệu thống kê thể hiện rằng, cứ sau mỗi 10 ngày xác định trong lượng, trọng lượng lợn trung bình có sự khác biệt một cách có ý nghĩa tuyệt đối.

Trung bình thời điểm bắt đầu là 11kg, sau 10 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 17,25kg; sau 20 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 20,0kg; sau 30 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 29,625kg; sau 40 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 41,0kg; sau 50 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 49,125kg; sau 60 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 56,875kg; sau 70 ngày nuôi bằng men vi sinh SIAMB trung bình lợn là 66,625kg.

ANOVA Table

Source Sum of Squares Df Mean Square F-Ratio P-Value
Between groups 22779,2 7 3254,18 514,24 0,0000
Within groups 354,375 56 6,32813    
Total (Corr.) 23133,6 63      

Multiple Range Tests

Method: 95,0 percent LSD

Level Count Mean Homogeneous Groups
BD 8 11,0 X
10 8 17,125  X
20 8 20,0   X
30 8 29,625    X
40 8 41,0     X
50 8 49,125      X
60 8 56,875       X
70 8 66,625        X

 

Contrast Sig. Difference +/- Limits
10 – 20   -2,875 2,51966
10 – 30   -12,5 2,51966
10 – 40   -23,875 2,51966
10 – 50   -32,0 2,51966
10 – 60   -39,75 2,51966
10 – 70   -49,5 2,51966
10 – BD   6,125 2,51966
20 – 30   -9,625 2,51966
20 – 40   -21,0 2,51966
20 – 50   -29,125 2,51966
20 – 60   -36,875 2,51966
20 – 70   -46,625 2,51966
20 – BD   9,0 2,51966
30 – 40   -11,375 2,51966
30 – 50   -19,5 2,51966
30 – 60   -27,25 2,51966
30 – 70   -37,0 2,51966
30 – BD   18,625 2,51966
40 – 50   -8,125 2,51966
40 – 60   -15,875 2,51966
40 – 70   -25,625 2,51966
40 – BD   30,0 2,51966
50 – 60   -7,75 2,51966
50 – 70   -17,5 2,51966
50 – BD   38,125 2,51966
60 – 70   -9,75 2,51966
60 – BD   45,875 2,51966
70 – BD   55,625 2,51966

Từ kết quả trên, chúng tôi đã tính toán FCR của đàn lợn như trong bảng sau:

Bảng Hệ số tiêu hóa thức ăn FCR của đàn lợn thí nghiệm

NGÀY 10 20 30 40 50 60 70
FCR 1.285 1.389 1.51 1.66 1.72 1.975 2.079

Như vậy, theo thời gian, FCR càng ngày càng tăng và đạt 2,079 vào ngày thứ 70 của thí nghiệm (Khoảng ngày thứ 90 của tuổi lợn).

                                                                                                 

Đàn gà sinh sản tốt nhờ thức ăn và chăm sóc theo mộ hình sạch

Tỷ lệ lợn con bình thường chết tập trung vào 7 ngày đầu tiên sau cai sữa. Lợn chết do nhập đàn chúng đánh nhau làm suy nhược sau đó một số bệnh khác bộc phát và gây bệnh. Lợn chuyển từ chuồng nái sang chuồng nuôi lợn cai sữa dễ bị stress gây tiêu chảy.

Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCBTA) thấp hơn do sản phẩm men vi sinh SIAMB có chứa đầy đủ các acid amine thiết yếu và acid amine giới hạn nên lợn sử dụng thức ăn hiệu quả hơn. Các lợi khuẩn làm ổn định hệ VSV đường ruột, bảo vệ nhung mao ruột tránh những tổn thương nên khả năng tiêu hóa và hấp thu tăng lên. Acid hữu cơ do hệ vi sinh vật tạo ra cũng góp phần làm giảm HSCBTA có thể do acid hữu cơ tạo môi trường lý tưởng cho việc tiêu hóa và hấp thu, kích thích sự phát triển của các lớp nhung mao làm tăng tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu. Như vậy, Men vi sinh SIAMB ngoài việc cung cấp vi khuẩn có lợi, nó còn cung cấp chất dinh dưỡng và những yếu tố khác hỗ trợ cho việc tiêu hóa và hấp thu như các enzyme, acid hữu cơ. Từ đó FCR của lô thí nghiệm khá thấp so với mặt bằng chung. Lợn sử dụng men vi sinh SIAMB sau 7 ngày hầu như không còn mùi hôi đặc trưng của lợn.

Ưu điểm khi bổ sung Men vi sinh SIAMB theo tỷ lệ 0,2% vào thức ăn tự trộn sẽ; Giúp lợn tiêu hóa thức ăn tốt, phân lợn thải ra không còn mùi hôi,da lợn hồng hào, lông bóng mượt.

Trong khoảng 10 ngày đầu, lợn khá hiếu động, khi qua giai đoạn này lợn ăn ngủ nhiều. Các cơ thịt của lợn chắc chắn, dùng liên tục sản phẩm qua nhiều ngày nhưng không có bất cứ biểu hiện gì như khi sử dụng hormon tăng trưởng. Điều này cũng được chứng minh qua phiếu kết quả phân tích thử nghiệm và kết quả thử nghiệm cũng chỉ ra rằng, không phát hiện ra hàm lượng các hormone.

Men vi sinh SIAMB không chỉ nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng thịt trên mô hình nuôi lợn cỏ mà còn có thể áp dụng cho nhiều mô hình chăn nuôi khác như: cút đẻ trứng, gà vịt lấy thịt, vỗ béo bò và nuôi cá tầm Đà Lạt cũng đều mang lại năng suất và chất lượng tương tự. Hy vọng đây sẽ là mô hình giúp người chăn nuôi có nhu cầu ứng dụng công nghệ vi sinh không sử dụng kháng sinh và hormone tăng trưởng.

Nguồn: Langmoi.vn
Thống kê truy cập
Đang online
75
Hôm nay
80
Tháng này
37,199
Tổng truy cập
573,961